Phường Nguyễn Du có các con đường chính như sau: 

1. Đường Nguyễn Du:

- Vị trí tuyến đường: Giao đường Trần Phú đến giao đường Nguyễn Công Trứ 

- Tiểu sử nhân vật đặt tên đường:

Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, sinh ngày 3/01/1766 tức 23/11 năm Ất Dậu, tại phường Bích Câu - Thăng Long. Quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình quý tộc, nhiều đời làm quan to dưới triều vua Lê, chúa Trịnh. Đó là gia đình có truyền thông yêu chuộng văn chương và nghệ thuật.

Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo lỗi lạc với tấm lòng sâu sắc, bao dung, đồng thời ông đã dùng ngòi bút phê phán hiện thực mạnh mẽ, sắc bén. Những sáng tác của Nguyễn Du là sự kết tinh những thành tựu chữ Hán và chữ Nôm của dân tộc, tổng hợp tinh hoa của nhiều thể loại văn học để sáng tác Truyện Kiều. Nguyễn Du đã có công lớn trong việc đưa ngôn ngữ văn học Tiếng Việt lên trình độ điêu luyện, cổ điển. Từ đó ông đáng được suy tôn danh hiệu Đại thi hào dân tộc và Danh nhân văn hóa thế giới.

2. Đại lộ Xô Viết Nghệ Tĩnh

- Vị trí tuyến đường: Giao đường Trần Phú đến giao đường Nguyễn Công Trứ 

- Lịch sử: 

Xô Viết Nghệ - Tĩnh là tên gọi chỉ phong trào đấu tranh của lực lượng công nhân và nông dân ở Nghệ An và Hà Tĩnh trong năm 1930-1931 chống lại đế quốc Pháp tại Việt Nam. Tên gọi Xô viết Nghệ Tĩnh xuất phát từ sự hình thành các "xã bộ nông" mà những người cộng sản gọi là "Xô viết[1].

Phong trào này được mở đầu bằng cuộc biểu tình ngày 1 tháng 5 năm 1930 của công nhân khu công nghiệp Bến Thủy và nông dân thuộc 5 xã ven thành phố Vinh. Từ đó đến tháng 8 năm 1930, ở vùng Nghệ Tĩnh đã có đến 97 cuộc bãi công và biểu tình của công nhân và nông dân, trong đó đáng chú ý là cuộc bãi công kéo dài của công nhân Nhà máy Diêm đã dẫn đến cuộc tổng bãi công của toàn thể công nhân khu công nghiệp Bến Thủy. Đứng đằng sau những vụ việc này là sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương thông qua Xứ ủy Trung Kỳ (hệ thống cơ sở của Đảng Cộng sản Đông Dương ở vùng này).

Từ tháng 9 năm 1930, các cuộc biểu tình vũ trang tự vệ quy mô lớn kết hợp với các yêu sách chính trị liên tiếp nổ ra của nông dân các huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Can Lộc, Hưng Nguyên, v.v... làm cho bộ máy chính quyền thực dân Pháp và bộ máy chính quyền địa phương (vốn bị coi là bù nhìn[2] của nhà Nguyễn lâm vào tình trạng tê liệt và tan rã. Dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, tổ chức nông hội (xã bộ nông) ở những nơi chính quyền tan rã đã kiểm soát và thành lập chính quyền mới với hình thức giống như hệ thống Xô viết.[3]

Chính quyền Xô viết đầu tiên được hình thành hàng loạt tại nhiều xã thuộc các huyện, thị xã: Thanh ChươngNam ĐànAnh SơnNghi LộcVinh - Bến ThuỷCan LộcThạch HàĐức ThọHưng NguyênHương Sơn...

Các chính quyền xô viết một mặt thi hành các chính sách mới, mặt khác phá bỏ hệ thống chính quyền cũ, trưng thu đất, thóc gạo, tiền bạc của các địa chủ, đồng thời ra yêu sách cải thiện điều kiện lao động với các chủ xưởng, chủ tàu ở vùng này.

Tuy vậy những chính quyền kiểu này chỉ tồn tại sau bốn, năm tháng do bị chính quyền của thực dân Pháp phối hợp với chính quyền địa phương của triều đình nhà Nguyễn trấn áp làm cho nó tan rã và giải thể.

Xô Viết Nghệ Tĩnh được đánh giá là đỉnh cao của phong trào Cách mạng trong những năm 1930 - 1931[3] và theo các tài liệu ở Việt Nam hiện hành thì đây là cuộc khởi nghĩa đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ khi ra đời.

3. Đường Nguyễn Huy Tự: 

- Vị trí con đường

Bắt đầu từ đoạn giao đườngTrung Tiết đến đoạn giao với đường Đại lộ Xô Viết

Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nguyễn Huy Tự (Quý Hợi 1743 - Canh Tuất 1790) Nguyễn Huy Tự là nhà thơ đời vua Lê Hiển Tông, tự là Hữu Chi, hiệu ẩn Trai, quê ở làng Trường Lưu, huyện La Sơn (nay là Can Lộc, Hà Tĩnh). Năm 16 tuổi ông đỗ Hương cống. Năm 24 tuổi nhận chức Tri phủ Quốc Oai. Năm 1770, do có công phụ đạo thế tử họ Trịnh ông được trọng vọng theo hàng Tiến sĩ, thăng chức Hiến Sát sứ Sơn Nam, ít năm sau được phong tước Nhạc Đình Bá cải sang ngạch quan võ làm Đốc đồng Sơn Tây năm 1782. Rồi cáo quan về chịu tang mẹ và ẩn cư tại quê nhà. Nhà Lê Trung Hưng mất ngôi, ông lại được vua Quang Trung chỉ triệu vào Kinh đô Phú Xuân, bổ chức Hữu Thị lang. Năm 1790 ông lâm bệnh nặng, qua đời ở tuổi 47, tên thụy là Thông Mẫn. Tác phẩm chính để lại có tập truyện thơ Hoa Tiên. Từ năm 2002 trở về trước đường này chỉ có một nhà dân duy nhất ở.

4. Đường Nguyễn Công Trứ:

- Vị trí tuyến đường: Giao đường Trung Tiết đến giao đường Đại Lộ Xô Viết

Tiểu sử nhân vật đặt tên đường: 

Nguyễn Công Trứ (Mậu Tuất 1778 - Mậu Ngọ 1858) là danh sĩ đời Tự Đức, lúc nhỏ có tên là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hải Văn, quê ở làng Uy Viễn, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình quan lại, cha làm Tham tán Nhung vụ, tước Đức Ngạn Hầu triều Lê - Trịnh. Năm 1819 ông đỗ Giải nguyên, năm 1820 được bổ làm Hành tẩu ở Quốc Sử quán, thăng dần lên Lang trung, Thị lang, Tham tri, sung chức Dinh điền sứ, Tổng đốc An Hải, nhiều lần làm tướng cầm quân dẹp thảo khấu bình định nội loạn, rồi bị cách chức, sau lại phục chức thăng Phủ doãn Thừa Thiên. Ông tính tình ngay thẳng, phóng khoáng, lại liêm khiết thương dân, hết mình vì đất nước, công lao không ai sánh được. Ông là người làm hết mực, chơi hết ga, đồng thời là một nhà văn hóa dân tộc. Về "cách chơi" ông có bài thơ nổi tiếng viết ở Huế: "Lênh đênh một chiếc thuyền lan Một cô gái Huế, một quan đại thần Ban ngày quan lớn như thần Ban đêm quan lớn tần mần như ma Ban ngày quan lớn như cha Ban đêm quan lớn rầy rà như con". Ông để lại khá nhiều thơ văn, nhiều bài hát nói theo chất liệu dân ca xứ Nghệ. Là người có công khẩn hoang lập ra hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn, tỉnh Thái Bình. Năm Thiệu Trị thứ ba, 1843, ông bị vu cáo nên bị cách tuột hết chức vụ, giáng xuống làm lính thú ở Quảng Ngãi. Ông đã từng nói: "Lúc làm đại tướng tôi không lấy làm vinh, thì nay làm tên lính tôi cũng không lấy làm nhục. Người ta ở địa vị nào có nghĩa vụ đối với địa vị ấy". Sau khi ông mất, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ suy tôn ông làm Khai canh, Thành hoàng làng. Tháng 6 năm Duy Tân thứ tám (1914) ông được truy phong tước Thọ Tường Tử.

5. Đường La Sơn Phu tử:

- vị trí tuyến đường: bắt đầu từ giao với  đường Phan Kính đến Khách sạn Salling giao với đường đại lộ Xô Viết Nghệ Tĩnh

- Lịch sử nhân vật: 

Nguyễn Thiếp (chữ Hán: 阮浹, 1723 - 1804) tự Khải Xuyên, là danh sĩ cuối đời Hậu Lê và Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam.

Ông vốn có tên húy là Minh, tự là Quang Thiếp, sau vì kiêng húy vua chúa nên đổi là Thiếp. Ngoài ra, ông còn có rất nhiều tên tự hay tên hiệu, hoặc do ông tự đặt, hoặc do người đương thời xưng tặng, chẳng hạn như: Khải Xuyên (có sách chép là Khải Chuyên), Hạnh AmĐiên ẩnCuồng ẩnLạp Phong cư sĩHầu Lục NiênLam Hồng dị nhânLục Niên tiên sinhLa Giang phu tử...[1]. Riêng Nguyễn Huệ (tức vua Quang Trung) gọi ông là La Sơn phu tử, là La Sơn tiên sinh.

Thủy tổ của ông là người quê ở Cương Gián (Nghi XuânHà Tĩnh), lấy vợ lẽ, rồi lập chi họ Nguyễn ở xã Nguyệt Ao (hay Áo, còn gọi là Nguyệt Úc), tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang (nay là xã Kim Lộc, Can LộcHà Tĩnh). Và ngày 25 tháng 8 năm Quý Mão(1723), Nguyễn Thiếp đã ra đời tại nơi khác chứ không phải nơi đây, đó chính là Quảng Ninh.

Lúc nhỏ, ông và ba anh em trai nhờ mẹ chăm sóc và chú là Tiến sĩ Nguyễn Hành rèn dạy nên đều học giỏi. Năm 19 tuổi (khi ấy Nguyễn Hành đang làm Hiến sát sứ Thái Nguyên), ông ra đó học, rồi được chú gửi cho bạn thân là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm (cha của thi hào Nguyễn Du) dạy dỗ thêm[2]. Tuy nhiên, chưa được một năm thì chú Nguyễn Hành đột ngột mất ở lỵ sở, Nguyễn Thiếp trở về nhà[3]. Năm sau, ông dự thi Hương ở Nghệ An đỗ thủ khoa[4], nhưng không ở lại dự thi Hội mà đi ở ẩn.

Năm Mậu Thìn (1748), ông ra Bắc dự thi Hội, nhưng chỉ vào đến tam trường (kỳ 3)[5]. Sau đó ông vào Bố Chính dạy học.

Năm Bính Tuất (1756), lúc này đã 33 tuổi, Nguyễn Thiếp được bổ làm Huấn đạo (chức quan trông coi việc học trong một huyện) ở Anh Đô (phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An). Ở đó 6 năm, ông được đổi làm Tri huyện Thanh Giang (nay là Thanh ChươngNghệ An)[6].

Năm Mậu Tý (1768), ông xin từ quan về ở ẩn tại trại Bùi Phong trên dãy Thiên Nhẫn.

Năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt họ Trịnh, có sai người đưa thư và vàng lụa lên sơn trại mời ông ra giúp việc nhưng ông từ chối.

Tháng 4 năm Mậu Thân (1788), trên đường ra Thăng Long trừ Vũ Văn Nhậm, tướng Nguyễn Huệ lại gửi thư mời ông xuống hội kiến ở Lam Thành, lời thư rất tha thiết, nên ông đành xuống núi nhưng vẫn chưa chịu ra giúp.

Cuối năm 1788, sau khi lên ngôi Hoàng đế tại núi Bân (Huế), vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ) kéo quân ra Bắc, đến Nghệ An nghỉ binh, nhà vua lại triệu Nguyễn Thiếp đến hỏi kế sách đánh đuổi quân Thanh xâm lược, Nguyễn Thiếp nói: "Người Thanh ở xa tới mệt nhọc không biết tình hình khó dễ thế nào. Vả nó có bụng khinh địch, nếu đánh gấp thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được nó". Lời tâu này rất hợp ý vua.

Sau đại thắng vào đầu xuân Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung về đến Nghệ An lại mời Nguyễn Thiếp đến bàn quốc sự.

Năm 1791, vua Quang Trung lại cho mời ông vào Phú Xuân để bàn việc nước. Vì cảm thái độ chân tình ấy, nên lần này ông đã nhận lời (trước đó ông đã từ chối 3 lần). Đến gặp, ông đã dâng lên vua Quang Trung một bản tấu bàn về 3 vấn đề: Một là "Quân đức" (đại ý khuyên vua nên theo đạo Thánh hiền để trị nước); hai là "Dân tâm" (đại ý khuyên vua nên dùng nhân chính để thu phục lòng người), và ba là "Học pháp" (đại ý khuyên vua chăm lo việc giáo dục). Tuy là ba, nhưng chúng có quan hệ mật thiết với nhau và đều lấy quan niệm "dân là gốc nước" làm cơ sở. Nguyễn Thiếp viết: "Dân là gốc nước, gốc vững nước mới yên".

Những lời tấu ấy được nhà vua nghe theo. Ngày 20 tháng 8 (1791), nhà vua ban chiếu lập "Sùng chính Thư viện" ở nơi ông ở ẩn và mời ông làm Viện trưởng[7]. Kể từ đó, ông hết lòng chăm lo việc dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm để dạy học và phổ biến trong dân. Chỉ trong hai năm, ông đã tổ chức dịch xong các sách: Tiểu học, Tứ thư, Kinh Thi, và chủ trì biên soạn xong hai bộ sách là Thi kinh giải âm và Ngũ kinh toát yếu diễn nghĩa[8].

Tháng 9 năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung đột ngột băng hà, sự nghiệp của Nguyễn Thiếp đành dở dang.

Năm Tân Dậu (1801), vua Cảnh Thịnh (con vua Quang Trung) có mời ông vào Phú Xuân để hỏi việc nước. Đang ở nơi ấy, thì kinh thành mất vào tay chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau là vua Gia Long). Nghe vị chúa này tỏ ý muốn trọng dụng, ông lấy cớ già yếu để từ chối, rồi xin về[9].

Ngày 6 tháng 2 năm 1804 (Quý Hợi), danh sĩ Nguyễn Thiếp không bệnh mà mất[10], thọ 81 tuổi, và được an táng tại nơi ông ở ẩn.

6. Đường Lê Ninh:

Vị trí con đường: Đường Lê Ninh bắt đầu từ giao với đường Nguyễn Du đến giao đường đại lộ Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Lê Ninh (1857-1887), quê Trung Lễ, Đức Thọ. Là người tổ chức, chỉ huy cuộc kháng chiến chống Pháp đầu tiên tại Hà Tĩnh.

7. Đường Hà Tông Chính:

- Vị trí con đường: bắt đầu giao với đường Trần Phú đến giao với đường Nguyễn Huy Lung

- tiểu sử nhân vật lịch sử:

Hoàng bảng Đại tướng quân Hà Tông Chính (húy là Dư - được ghi trong các tư liệu là Hà Dư) sinh năm Bính Ngọ (1366), là con trai duy nhất của tướng quân đời nhà Trần - Hà Mại, tướng trấn thủ xứ Nghệ An thời vua Trần Dụ Tông (Tướng quân Hà Mại là thủy tổ dòng họ Hà ở xã Tùng Lộc. Lăng mộ tướng quân Hà Mại tại xã Phúc Lộc, huyện Can Lộc đã được UBND tỉnh Hà Tĩnh công nhận di tích LSVH năm 2010). Theo đường binh nghiệp của cha, Hà Tông Chính tham gia vào quân đội triều Trần bảo vệ phòng tuyến phía nam của nước Đại Việt trước sự xâm lấn của vương quốc Chiêm Thành. Khi tướng quân Hà Mại về trí sĩ ở phía nam núi Hồng Lĩnh, Hà Tông Chính vẫn ở lại quân ngũ tiếp tục phục vụ nhà Trần, với chí dũng mưu, lập nhiều công lớn, năm Bính Tý (1396) Hà Tông Chính được vua Trần phong hàm Hoàng bảng Đại tướng quân  khi ở độ tuổi 30.

8. Đường Trần Phú:

    - Vị trí con đường

Bắt đầu từ ngã 4 giao đường Nguyễn Du đến đoạn tiếp giáp xã Thạch Trung

 - Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Trần Phú (Giáp Thìn 1904 - Tân Mùi 1931) Liệt sĩ, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, quê ở làng Tùng ảnh, nay là xã Đức Sơn, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh ra tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi vì cha của ông được phân bổ làm Tri huyện tại đó. Ông là người thông minh, học giỏi ngay từ lúc còn nhỏ ở Đức Phổ, sau ra Huế học tiếp. Năm 1922, ông đỗ bằng Thành chung được điều về dạy tại Trường Tiểu học Vinh, Năm 1925, ông tham gia lập Hội Phục Việt, rồi gia nhập Việt Nam cách mạng đảng (sau tổ chức này đổi thành Tân Việt). Năm 1926, ông sang Trung Quốc, liên lạc với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tại đây ông được kết nạp vào Cộng sản đoàn rồi được lãnh tụ Nguyễn ái Quốc cử về nước hoạt động với tư cách Người chiến sĩ Cộng sản. Năm 1927, ông được Đảng cử sang Liên Xô học tại Trường Đại học Phương Đông Mátcơva, ông được cử làm Bí thư chi bộ nhà trường dưới cái tên Likiv. Tháng 4 năm 1930 ông về nước, được cử vào BCH T.Ư lâm thời của Đảng. Thời gian này ông khởi thảo bản Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương tại ngôi nhà số 90 phố Thợ Nhuộm, Hà Nội. Tháng 10 năm 1930, tại Hồng Kông, Đảng họp Hội nghị lần thứ Nhất, ông được bầu làm Tổng bí thư của Đảng. Sau đó, ông về nước hoạt động tại Sài Gòn, đến ngày 19/4/1931, do tên Ngô Đức Trì phản bội ông bị mật thám Pháp bắt. Trong tù ông bị tra tấn dã man, rồi lâm bệnh nặng, mất tại Bệnh viện Chợ Quán ngày 6/9/1931, hưởng dương 27 tuổi. Trước khi mất, ông dặn lại các đồng chí của mình: "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu". Ông là người Cộng sản kiên cường, một bậc thầy của giai cấp vô sản Việt Nam

9. Đường Xuân Diệu:

- Vị trí tuyến đường: 

Bắt đầu từ đoạn giao nhau với Đường Chính Hữu đến đoạn giao với đường Đại lộ Xô Viết Nghệ Tĩnh

Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Xuân Diệu (Bính Thìn 1916 - ất Sửu 1985) Nhà thơ lớn của thời đại, nhà lý luận phê bình, tên thật là Ngô Xuân Diệu, quê làng Trảo Nha, nay thuộc thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh trưởng tại quê mẹ ở làng Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Lúc nhỏ, ông học ở Qui Nhơn, sau ra Huế theo hết Trung học, thi đậu Tú tài năm 1940. Xuân Diệu có thời gian làm viên chức ở Sở Thương chánh, nhưng lại quá say mê viết văn, làm thơ đăng báo, tài năng văn chương sớm bộc lộ nên nhanh chóng nổi tiếng. Năm 1943, ông thôi việc ở Sở Thương chánh, ra Hà Nội sinh sống. Năm 1944 ông tham gia phong trào Việt Minh. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông tham gia công tác cách mạng trong Hội Văn hóa cứu quốc, làm Thư ký tạp chí Tiền Phong của Hội. Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông từng trải qua các chức vụ: Đại biểu Quốc hội khoá I (từ1946 đến1960), Thư ký tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Việt Bắc, ủy viên Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, ủy viên Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, ủy viên BCH hội Hữu nghị Việt Xô; năm 1983, ông được bầu làm Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học nước Cộng hòa dân chủ Đức. Do công lao đóng góp cho cách mạng và nền văn hóa Việt Nam, ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất và nhiều Huân, Huy chương cao quí khác. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Ông mất tại Hà Nội năm 1985, thọ 69 tuổi. Ông là một nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới, nhà thơ Tình nổi tiếng được mọi giới chấp nhận, là nhà thơ lớn của nền văn học văn hóa Việt Nam hiện đại. Xin giới thiệu bài thơ "Mùa thi" ông viết năm 1934 để hiểu thêm về thơ ông: "Thơ ta hơ hớ chưa chồng, Ta yêu, muốn cưới, mà không thì giờ: Mùa thi sắp tới! Em thơ, Cái hôn âu yếm xin chờ năm sau". Ông để lại các tác phẩm chính: Thơ thơ, Phấn thông vàng, Gửi hương cho gió, Mài sắt nên kim, Thơ văn Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương, Hội nghị non sông, Ngọn quốc kỳ, Riêng chung, Một khối hồng, Mũi Cà Mau, Cầm tay... Thơ và từ Đào Tấn... tổng cộng ông để lại gần 50 cuốn sách các loại.

10. Đường Chính Hữu: 

- vị trí tuyến đường: đường này trước đây là ngõ 13 và ngõ 26 đường Xuân Diệu)

- Tiểu sử nhân vật:

Chính Hữu (15 tháng 12 năm 1926[1] - 27 tháng 11 năm 2007[2]), tên thật là Trần Đình Đắc, là một nhà thơ Việt Nam, nguyên Đại tá, Phó cục trưởng cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục chính trị, Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam. Ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật lần hai (năm 2000).

Ông sinh tại Vinh (Nghệ An). Nguyên quán của ông là huyện Can Lộc (nay là huyện Lộc Hà), tỉnh Hà Tĩnh. Ông học tú tài (triết học) ở Hà Nội trước cách mạng tháng Tám. Năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ Đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ. Ông còn làm chính trị viên đại hội (chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954). Ông làm thơ từ năm 1947 và hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh. Tập thơ Đầu súng trăng treo (1966) là tác phẩm chính của ông. Bài thơ "Đồng chí" được in vào tháng 2-1948. Thơ ông không nhiều nhưng lại có nhiều bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc. Ông đã sáng tác bài thơ "Đồng chí" mà sau này đã được phổ nhạc cho bài hát "Tình đồng chí". Bài hát đã khơi dậy những xúc động mãnh mẽ trong lòng nhiều thế hệ.

Vào 00 giờ 27 phút ngày 27 tháng 11 năm 2007 gia đình vô cùng thương tiếc báo tin ông đã qua đời tại bệnh viện Hữu Nghị thành phố Hà Nội.

11. Đường Đào Tấn:

- vị trí con đường: giao với đường La Sơn Phu Tử đến giao với đường đại lộ xô viết nghệ tĩnh (Phía sau các cơ quan CA TP, Kho Bạc, Phòng CSCĐ, cục thuế Hà Tĩnh)

- tiểu sử nhân vật: 

Đào Tấn (1845 – 1907), tự là Chỉ Thúc (止叔), hiệu là Tô Giang và Mộng Mai (夢梅), biệt hiệu là Tiểu Linh Phong Mai Tăng hoặc Mai Tăng (梅僧), là một nhà soạn tuồng nổi tiếng Việt Nam. Ông là vị quan thanh liêm thời nhà Nguyễn, đã từng giữ chức vụ Tổng đốc An – Tĩnh (Nghệ An – Hà Tĩnh), Công Bộ Thượng thư.

Ông tên thật là Đào Đăng Tấn, sinh ngày 27 tháng 2 năm Ất Tỵ (tức 3 tháng 4 năm 1845), tại thôn Vinh Thạnh, tổng Thời Tú, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định (nay thuộc thôn Vinh Thạnh, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định). Do tránh quốc húy nên bỏ chữ Đăng, nên gọi gọn Đào Tấn.

Ông thuộc dòng dõi Lộc Khê hầu Đào Duy Từ (1572-1634), một danh nhân thời chúa Nguyễn, vào lập nghiệp ở đất Đàng trong đầu thế kỷ XVII. Cha là Đào Đức Ngạc, mẹ là Hà Thị Loan.

Thuở nhỏ, ông thọ giáo với cụ Tú Nguyễn Diêu, người làng Nhơn Ân (nay là thôn Nhơn Ân xã Phước Thuận cùng huyện); không những được thầy dạy chữ để đi thi mà còn đào tạo thành một nhà soạn tuồng. Năm 19 tuổi, lúc còn học với thầy, ông soạn tuồng đầu tay Tân Dã Đồn, nổi tiếng từ ấy.

Năm 23 tuổi, ông đỗ thứ 8 Cử nhân khoa Đinh Mão (1867) tại trường thi Bình Định, dưới triều vua Tự Đức. Tuy nhiên, dù văn tài xuất chúng, ông không vượt được kỳ thi hội tiếp theo đó.

12. Đường Nguyễn Huy Oánh:

- vị trí tuyến đường: từ giao với đường Phan Kính (gần BHYT TP) đến đoạn giao với đường La Sơn Phu Tử (đoạn giao với KS Saling)

- Tiểu sử nhân vật: 

Nguyễn Huy Oánh (chữ Hán: 阮輝𠐓, 1713 - 1789), tự: Kinh Hoa, hiệu:Lưu Trai; là đại thần và là nhà văn thời Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.

Nguyễn Huy Oánh sinh trưởng trong một gia đình Nho học tại làng Trường Lưu, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Trường Lộc, Can LộcHà Tĩnh).

Ông sinh ngày 4 tháng 11 năm 1713. Mất ngày 2 tháng 6 năm 1789 tức ngày 9 tháng 5 năm Kỷ Dậu, thụy là Văn Túc. Triều đình và nhân dân địa phương lập đền thờ ông, tục gọi là đền thờ cụ Thám.

13. Đường Phan Kính : 

- vị trí con đường: Bắt đầu giao với đường Nguyễn Du đến giao với đường Đại lộ xô viết nghệ tĩnh 

- Tiểu sử nhân vật 

Phan Kính (1715-1761), tự là Dĩ Trực, hiệu Tĩnh Trai, đỗ Thám hoa và làm quan dưới thời vua Lê Hiển Tông thuộc vương triều Nhà Lê Trung Hưng. Ông từng đi sứ Nhà Thanh và được hoàng đế Càn Long trọng tài đức và phong là "Lưỡng quốc đình nguyên Thám hoa". Ông sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng, cha ông là Phan Quán làm quan đến chức Đông Các Đại Học Sĩ.

  • Năm ất Mão 1735, Phan Kính đậu cử nhân tại Trường thi Nghệ An.
  • Năm 1744, ông thi Hội đỗ Tiến sĩ và thi Đình đứng thứ nhất. Năm đó không lấy đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn nên ông được vua phê chuẩn: Đình nguyên Thám hoa.
  • Năm 1745, ông được bổ nhiệm đi kinh lý Nghệ An với chức vụ Tuyên uý phó sứ.
  • Năm 1748 ông lại được cử đi làm chức Hiệp đồng trấn Sơn Tây.
  • Năm 1759, ông được chúa Trịnh Doanh cử lên làm Đốc đồng Tuyên Quang.
  • Vào khoảng những năm 1759, 1760 vua nhà Thanh biết tài của Phan Kính, nên đã phong cho ông là "Lưỡng quốc đình nguyên Thám Hoa" ban tặng ông một áo gấm màu vàng (cẩm bào) và một bức trướng ghi dòng chữ: "Thiên triều đặc tứ, Bắc đầu dị nam, nhất nhân nhi dĩ" (Thiên triều đặc ban, phía nam bắc đầu, chỉ một người thôi).
  • Ngày 7 tháng 7 năm 1761, ông lâm bệnh nặng và qua đời tại quân doanh Hưng Hóa.
  • Năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783) Vua Lê Hiển Tông phong sắc cho ông là "Thành hoàng hiệu Anh Nghị Đại Vương" để ghi nhớ công lao nội trị và ngoại giao của Thám hoa Phan Kính.
  • Đền thờ Phan Kính tại xã Song Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh được xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia (quyết định của Bộ Văn hóa Thông tin số 776 ngày 23-6-1992).

14. Đường Lê Thiệu Huy:

anh hùng - liệt sĩ Lê Thiệu Huy (1921 - 1946) người làng Lạc Thiện, nay là xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Anh sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học. Thân phụ anh là cụ Giải nguyên Lê Thước (đỗ đầu cử nhân Hán học). Cụ là một nhà nghiên cứu văn học và nhà sư phạm nổi tiếng…

15. Đường Bùi Dương Lịch :

Bùi Dương Lịch (chữ Hán裴楊瓑1757 – 1828)[1] có tên tự là Tồn Thành(存成), hiệu Thạch Phủ(石甫) và Tồn Trai(存齋) [2]; là một nhà giáo và là văn thần trải ba triều đại khác nhau: Lê trung hưngTây Sơn và nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Ông sinh năm Cảnh Hưng thứ 18 (Đinh Sửu1757) tại thôn Yên Hội, xã Yên Đồng, tổng Việt Yên, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ, tỉnh Nghệ An (nay là xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh).

Họ Bùi của ông vốn là một dòng họ có nhiều người đỗ đạt làm quan, lại có tiếng văn chương ở thôn Yên Hội. Cha ông là Bùi Quốc Toại, đỗ Cử nhân, từng làm Tri phủ Thiệu Thiên (Thanh Hóa) thời Hậu Lê.

Thuở nhỏ, Bùi Dương Lịch học ở nhà với cha. Năm 1774, ông đỗ Hương cống lúc 17 tuổi. Sau đó, ông ra Thăng Long vừa dạy tư vừa tập luyện văn bài ở Quốc Tử Giám, dần nổi tiếng là người hay chữ.

Năm 1786, ông được bổ làm Huấn đạo phủ Lý Nhân, nhưng vì có tang cha nên từ chối. Khi hết tang, ông lại ra Thăng Long học tiếp.

úc này cục diện đất nước hết sức rối ren. Kể từ tháng 10 năm 1872nạn kiêu binh thực sự trở thành quốc nạn. Đến giữa năm 1786, sau khi phong trào Tây Sơn làm chủ Đàng Trong đã nhanh chóng tiến ra Đàng Ngoài tiêu diệt phe chúa Trịnh. Nhưng sau khi quân Tây Sơn rút về Nam, việc tranh chấp quyền hành giữa vua Lê và chúa Trịnh lại diễn ra quyết liệt. Triều đình nhà Hậu Lê bèn xuống chiếu cầu người tài giỏi, Bùi Dương Lịch nhân đó được tiến cử [3] và được vua Lê Chiêu Thống cho làm Nội hàn viện cung phụng sứ ngoại lang (chỉ là một chức quan văn nhỏ ở gần vua, để vua tiện hỏi han)[4]. Ngoài việc làm này, ông còn lãnh nhiệm vụ đến nhà riêng của Điền quận công Lê Duy Lựu (em ruột vua) để giảng giải kinh sách. Sau đó, ông được chuyển làm một vài công việc khác, rồi được quản lĩnh đội quân Hậu Thắng [5].

Tháng 7 năm Chiêu Thống thứ 1 (1787), ông thi đỗ Hoàng giáp lúc 30 tuổi (đây là khoa cuối cùng của triều Lê)[6], nhưng chưa kịp thăng quan và cưới Công chúa (vua Lê Chiêu Thống hứa gả)[7] thì quân Tây Sơn do tướng Vũ Văn Nhậm chỉ huy kéo ra Thăng Long, giết chết Nguyễn Hữu Chỉnh, khiến vua Lê Chiêu Thống hoảng hốt bỏ đi bôn tẩu khắp nơi, rồi cho người sang cầu viện nhà Thanh (Trung Quốc). Lúc bấy giờ, ông chạy vào Thanh Hóa [8].

Tháng 10 năm Mậu Thân (1788), hàng vạn quân Thanh do tướng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy đưa vua Lê về lại Thăng Long. Tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789), vua nhà Tây Sơn là Quang Trung (Nguyễn Huệ) kéo quân ra Bắc Hà, đánh tan cả đội quân ấy, khiến nhà vua phải chạy sang Trung Quốc. Theo Bùi gia phả, thì lúc bấy giờ Bùi Dương Lịch chạy lên Lạng Sơn để theo vua, nhưng đi được mấy dặm đường thì bị chặn lại, nên đành rẽ sang Thái Nguyên rồi quay về Thăng Long[9].

Theo Ốc lậu thoại do ông viết, thì năm Canh Tuất (1790), ông được vua Quang Trung gọi vào Phú Xuân [10], nhưng đã từ chối, lấy cớ phải ở nhà nuôi dưỡng mẹ già.

Năm 1791, vua Quang Trung lại một lần nữa mời ông ra giúp việc biên soạn và dịch thuật ở Viện Sùng chính (Viện trưởng là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp), và ông đã nhận lời. Công việc học thuật mà ông tham gia đang phát triển thuận lợi, thì vua Quang Trung mất (tháng 9 năm 1792). Sau đó, ông trở về quê dạy học vì Viện Sùng chính ngừng hoạt động [11].

Năm 1802, nhà Tây Sơn sụp đổ, vua Gia Long lên ngôi mở đầu triều đại nhà Nguyễn, Bùi Dương Lịch lại được triệu ra. Khẩn khoản chối từ không được, ông phải nhận chức Đốc học Nghệ An (1805), rồi làm Phó Đốc học Quốc Tử Giám ở Huế (1812), nhưng chỉ được một năm thì xin cáo về (1813), tiếp tục sống với nghề dạy học tư và soạn sách cho đến khi mất (Mậu Tý1828). Năm ấy, ông 71 tuổi.

Nhớ ơn thầy, những người học trò cũ đã dựng một ngôi nhà thờ ông trên khu đất vườn của ông, hiện tọa lạc tại xã Tùng Ảnh.

 

Văn bản mới ban hành
Bản đồ phường Nguyễn Du
 Liên kết website
Thống kê: 21.923
Online: 36